Hen suyễn là bệnh viêm mạn tính ở hen phế quản, quá trình viêm này có sự tham gia của nhiều tế bào và nhiều thành phần của tế bào. Viêm mạn tính đi kèm với sự nhạy cảm quá mức của đường dẫn khí dẫn đến các cơn suyễn tái đi tái lại của các triệu chứng khò khè, khó thở, nặng ngực và ho. Các triệu chứng này đặc biệt thường xảy ra vào ban đêm hoặc sáng sớm. Các cơn suyễn đi kèm với việc lan rộng – nhưng rất thay đổi – của sự tắc nghẽn đường dẫn khí bên trong phổi mà thường là hồi phục tự nhiên hay do điều trị. Hen suyễn là một bệnh mạn tính - bệnh mạn tính có nghĩa là nó luôn đi theo người bệnh đến …cả cuộc đời.
Hen suyễn là bệnh có tỷ lệ người mắc bệnh khá cao, vì bệnh này do biến chứng của hen phế quản. Lấy ví dụ tại Mỹ, với dân số khoảng 300 triệu người có khoảng 22 triệu người bị hen suyễn, mỗi năm hen suyễn gây ra khoảng 5.000 ca tử vong, 2 triệu lần phải cấp cứu, và 500.000 trường hợp phải nhập viện mỗi năm. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ ước tính người bị hen suyễn là khoảng 5% dân số (khảo sát này được thực hiện bởi TS. Phạm Duy Linh và cộng sự tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch). Với tỷ lệ mắc bệnh cao như vậy, hen suyễn là bệnh gây hậu quả khá nghiêm trọng. Hơn nữa, có bằng chứng ngày càng nhiều là nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách, hen suyễn có thể gây suy giảm dài hạn chức năng phổi (còn gọi là suy hô hấp mạn tính).
Hen suyễn là một bệnh lý có hai vấn đề chủ yếu xảy ra bên trong đường dẫn khí của phổi.
• Co thắt phế quản: các cơ trơn phế quản siết chặt hay thắt chặt lại với nhau. Co thắt phế quản có thể gây cản trở không cho không khí được hít vào hay thở ra qua phế nang phổi.
• Viêm đường dẫn khí: ở người bị hen suyễn đường dẫn khí của phổi luôn luôn bị viêm, trở nên sưng nhiều hơn và kích ứng khi bắt đầu có cơn hen. Sự sưng này chính là do viêm. Viêm có thể làm giảm lượng không khí mà người bệnh có thể hít vào hay thở ra khỏi phổi. Trong một số trường hợp, các tuyến nhầy trên đường dẫn khí tiết quá nhiều chất nhày đặc, và hệ quả là làm tắt nghẽn đường dẫn khí. Lúc này bệnh nhân có cảm giác ngộp thở dù đang ở nơi đầy không khí.
Sự co thắt và viêm đường dẫn khí đồng thời gây thu hẹp đường dẫn khí, có thể làm thở khò khè, co kéo – cò cữ, thắt chặt lồng ngực (tạo cảm giác “nặng ngực” hay “đau ngực” như một số bệnh nhân mô tả), hoặc thở hổn hển (khó thở). Ở người bị hen suyễn, đường dẫn khí bị viêm ngay cả khi không có những triệu chứng.
Điều gì sẽ xảy ra đối với người bị bệnh suyễn không được kiểm soát? Tiếng rít nghe được khi thở? Ho? Nặng ngực? Khó thở? Đa số những người bị hen suyễn có một hay nhiều hơn những triệu chứng sau:
• Khò khè: tiếng rít thường nghe được khi thở ra. Tiếng rít này dễ dàng được nhận ra bởi bác sĩ khi khám bệnh hay thậm chí chính bệnh nhân cũng có thể nhận ra. Khò khè nghe như tiếng mèo rên hoặc ngày xưa ông bà ta thường gọi là tiếng “cò cử”.
• Ho: ho có thể kéo dài và thường hay xảy ra. Ho cũng là dấu hiệu nặng của cơn suyễn ban đêm. Ho rất dễ bị nhầm lẫn với những bệnh khác. Đặc biệt ở Việt Nam, một số bệnh nhân bị ho do hen suyễn dễ được chẩn đoán nhầm là viêm phế quản, viêm họng hay thậm chí được chẩn đoán là ho lao (bản thân người viết đã gặp một số trường hợp người bị hen suyễn chỉ có biểu hiện là ho và đã được điều trị bằng thuốc lao). Một số bệnh nhân bị hen suyễn chỉ có biểu hiện duy nhất là ho, đặc biệt là nửa đêm về sáng.
• Nặng ngực: cảm giác giống như lồng ngực bị bóp chặt.
• Khó thở: thở thấy khó khăn, đặc biệt là thở ra.
Điểm cốt yếu của hen suyễn là, ngay cả khi người bệnh không để ý đến nó, viêm đường dẫn khí luôn đồng hành cùng bệnh nhân. Đường dẫn khí bị viêm dù đang có triệu chứng hen suyễn hay không có triệu chứng hen suyễn. Đó là lý do hết sức quan trọng rằng tại sao người bệnh phải điều trị dự phòng hen suyễn hàng ngày – ngay cả khi cảm thấy khỏe – do ngày càng có nhiều bằng chứng chứng minh rằng – nếu không được điều trị, hen suyễn có thể gây suy hô hấp mạn tính.
Nói chung, có hai loại thuốc để điều trị bệnh suyễn – thuốc dự phòng và thuốc cắt cơn nhanh (cũng còn gọi là “thuốc cấp cứu”). Các thuốc dự phòng, như corticosteroid dạng hít, được sử dụng hàng ngày để giảm viêm và ngăn chặn những triệu chứng xảy ra. Các thuốc cắt cơn nhanh được sử dụng để giảm co thắt các cơ trơn đường hô hấp trong cơn hen suyễn.
Dự phòng hen suyễn, ngoài việc dùng thuốc, bệnh nhân cần chú ý đến những thứ có thể gây kích ứng cơn hen suyễn được gọi chung là dị ứng nguyên. Chúng có thể là thực phẩm như bò, gà, đồ biển. Hoặc không phải thực phẩm như khói bụi (đặc biệt là khói thuốc lá), phấn hoa, dị ứng nguyên từ chó mèo, gián, nấm mốc, mạt nhà.
Một số bài thuốc hen phe quan, hen suyễn từ thực phẩm
Có một số thực phẩm kích hoạt cơn hen suyễn. Ngược lại, cũng có một số thực phẩm có ích cho hen suyễn. Việc điều trị hen suyễn bằng thuốc theo Tây y, do sử dụng dài hạn, có thể có những tác dụng bất lợi cho cơ thể. Vì thế, ngày nay, kể cả những nước Phương tây, việc điều trị những bệnh mạn tính ngày càng được chú ý nhiều hơn đến những phương thuốc từ cỏ cây, thực phẩm.
Củ gừng. Từ xa xưa, ông cha ta đã biết dùng gừng như một vị thuốc chống nôn. Gừng, với hoạt chất chính yếu có giá trị trong chống nôn là gingerol (có lẽ vì hoạt chất này mà tên tiếng Anh của Gừng là Ginger). Vị đặc trưng của gừng cũng là do chất gingerol. Ngoài gingerol, trong gừng còn có guineapigileum có hoạt tính kháng hydroxytryptamine giúp chống nôn hiệu quả. Ngày nay, một số nghiên cứu trong ngành thực vật ở Ấn Độ đã thấy gừng có đặc tính kháng viêm giúp ức chế đáp ứng miễn dịch thái quá trong hen suyễn. Hơn nữa, gừng cũng có hoạt tính làm long đàm. Một nghiên cứu được tiến hành trên 92 bệnh nhân bị hen suyễn ở Iran. Bệnh nhân được sử dụng 150 mg bột gừng 3 lần mỗi ngày trong 2 tháng. Sau 2 tháng sử dụng gừng đã có cải thiện đáng kể triệu chứng của hen suyễn là khò khè và nặng ngực. Khò khè giảm 19,5% và nặng ngực giảm 52%.
Mật ong. Mật ong giúp làm loãng chất đàm nhớt trong phế quản và tạo điều kiện dễ dàng để tống xuất đàm nhớt ra ngoài. Như bạn đã biết, chất nhầy của đàm nhớt tích tụ trong phế quản ngăn cản oxy đi vào cũng như ngăn chặn sự đào thải CO2 ra ngoài. Điều này kích hoạt cơn suyễn cấp. Mật ong có thể được sử dụng bằng cách pha trong nước uống hàng ngày (một muỗng cà phê mật ong mỗi ngày) hoặc một muỗng cà phê mật ong pha với nửa muỗng cà phê bột quế uống 1 lần mỗi ngày (sáng hoặc tối). Cách tốt hơn là dùng mật ong pha với nước cốt gừng tươi.
Cẩm nang hen phế quản
By dichvuso2 on July 6, 2013 | Leave a Comment | Edit
Hen phế quản là tình trạng viêm mạn tính của phế quản gây nên phù và hẹp đường thở, gây khó thở rít. ho, tức ngực từng đợt tái diễn, thường bị tắc nghẽn đường thở có thể tự hồi phục hoặc do điều trị. Quá trình viêm này hay kèm theo tăng tính phản ứng phế quản với nhiều tác nhân kích thích gây co thắt phế quản. Hiện tượng hẹp phế quản thường hồi phục hoàn toàn hoặc ít nhất một phần với điều trị.
Các phế quản bị viêm mạn tính trở nên dễ nhạy cảm với các tác nhân gây dị ứng (đặc hiệu) hoặc những tác nhân kích thích (không đặc hiệu). Đường hô hấp trở nên “bối rối” và vẫn ở trong trạng thái nhạy cảm cao. Hiện tượng này được gọi là “phản ứng quá mức của phế quản” (BHR-Bronchial Hyperreactivity). Những người bị hen phế quản hoặc dị ứng thì thường có hiện tượng phản ứng quá mức của phế quản mạnh hơn so với những người không bị hen phế quản hoặc không bị dị ứng. Ở những người nhạy cảm, phế quản dễ bị phù (sưng) và hẹp khi tiếp xúc với các tác nhân như chất gây dị ứng, khói thuốc lá, hoặc tập thể dục. Trong số những người bị hen phế quản thì một số người có phản ứng quá mức của phế quản ở mức độ nhẹ và không có triệu chứng trong khi một số khác thì có phản ứng quá mức của phế quản ở mức độ nặng và có các triệu chứng mạn tính.
I. THẾ NÀO LÀ PHẾ QUẢN BÌNH THƯỜNG?
Trước khi đánh giá hen phế quản ảnh hưởng như thế nào lên đường hô hấp thì chúng ta cần xem qua cấu trúc và chức năng của phế quản bình thường.
Không khí chúng ta thở qua mũi, miệng để vào thanh quản rồi vào khí quản. Không khí sau đó vào phổi bằng một trong hai phế quản chính (mỗi phổi có một phế quản chính). Phế quản tiếp tục phân nhánh trong phổi thành những ống nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa được gọi là tiểu phế quản. Không khí hít vào sẽ đi qua hệ thống các khí đạo (đường thở) này để đến hàng triệu túi khí nhỏ trong phổi được gọi là phế nang. Ôxy (O2) từ phế nang vào dòng máu thông qua hệ thống mạch máu rất nhỏ được gọi là mao mạch. Tương tự, các sản phẩm phế thải của cơ thể như khí carbonic (CO2) sẽ từ dòng máu vào trong phế nang và từ đó sẽ được thở ra ngoài.
Các phế quản bình thường cho phép không khí đi vào và đi ra phổi thật nhanh chóng, giúp đảm bảo nồng độ O2 và CO2 ổn định trong máu. Thành của các phế quản được bao quanh bởi lớp cơ trơn có thể co và dãn một cách tự động khi chúng ta thở. Sự co thắt và dãn nỡ của các phế quản được điều khiển bởi hai hệ thần kinh khác nhau, cùng hòa hợp hoạt động để giúp cho đường thở luôn mở.
Lớp lót bên trong của phế quản còn được gọi là lớp niêm mạc, nó chứa: (1) tuyến nhầy (tiết ra đủ chất nhầy để giúp bôi trơn đường thở); (2) các tế bào viêm như tế bào mast, tế bào lympho, bạch cầu ái toan. Các tế bào này giúp bảo vệ niêm mạc của phế quản đối với vi khuẩn, tác nhân dị ứng, chất kích thích khi được hít vào bên trong, và các tế bào này có thể làm cho mô phế quản bị sưng phù. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng các các tế bào viêm này đóng vai trò rất quan trọng trong phản ứng dị ứng.
II. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH HEN PHẾ QUẢN:
Các triệu chứng của hen phế quản có thể được kích hoạt và trở nên nặng nề hơn bởi nhiều tác nhân. Không phải tất cả những người bị hen phế quản đều bị phản ứng với cùng một tác nhân. Ngoài ra, ảnh hưởng của các tác nhân này lên phổi cũng khác nhau ở mỗi người. Nói chung, độ nặng của các triệu chứng hen phế quản phụ thuộc vào việc có bao nhiêu tác nhân kích hoạt nên các triệu chứng và phổi của bạn nhạy cảm như thế nào đối với chúng.
Các tác nhân có thể được chia làm 2 nhóm:
Tác nhân dị ứng:
Phấn hoa theo mùa
Bụi, nấm mốc, vật nuôi, các thành phần của côn trùng
Thực phẩm như cá, trứng, đậu phộng, sữa bò, đậu nành
Các chất phụ gia như sulfite
Các tác nhân có liên quan đến công việc như chất latex
Khoảng 80% trẻ em và 50% người lớn bị hen phế quản đều có dị ứng.
Tác nhân kích thích:
Nhiễm trùng hô hấp: chẳng hạn như cảm cúm, viêm phế quản, viêm xoang
Thuốc: Như aspirin, các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) khác, thuốc ức chế thụ thể beta (thường được dùng để điều trị cao huyết áp và một số bệnh tim)
Hút thuốc lá
Các yếu tố ngoài môi trường như khói, thay đổi thời tiết, mùi diesel
Các yếu tố trong nhà như nước sơn, bột giặt, khử mùi, hóa chất, nước hoa
Ban đêm
Bệnh lý trào ngược dạ dày – thực quản (GERD)
Tập thể dục: ví dụ như trong điều kiện lạnh và khô
Các yếu tố liên quan đến công việc như hóa chất, bụi, gas, kim loại
Các yếu tố cảm xúc: cười, khóc, hò hét, đau buồn…
Các yếu tố liên quan đến nội tiết tố (hormon): VD như hội chứng tiền mãn kinh
Việc có nhiều tác nhân tiềm ẩn giải thích vì sao hen phế quản có thể khởi phát theo nhiều cách khác nhau. Nhưng trong đa số các trường hợp thì nó thường khởi phát trong độ tuổi từ 2 đến 6. Trong độ tuổi này thì thì hen phế quản thường có liên quan đến việc tiếp xúc với các tác nhân dị ứng như bụi, khói thuốc và nhiễm siêu vi đường hô hấp. Ở những trẻ dưới 2 tuổi thì khó chẩn đoán hen phế quản một cách chắc chắn. Thở khò khè ở độ tuổi này có thể theo sau tình trạng nhiễm siêu vi đường hô hấp và thường biến mất sau đó mà không dẫn đến bệnh hen phế quản. Tuy nhiên hen phế quản có thể khởi phát trở lại vào độ tuổi trưởng thành. Hen phế quản khởi phát ở người lớn thì thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn, hầu hết vào độ tuổi trung niên và thường theo sau một tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp. Tác nhân kích thích đối với nhóm này về bản chất là thường không phải do dị ứng.
Hen phế quản do dị ứng (ngoại lai) và hen phế quản không do dị ứng (nội tại) là gì?
Bác sĩ có thể đề cập đến hen phế quản là “ngoại lai” hay “nội tại”. Việc hiểu rõ hơn về bản chất của hen phế quản có thể giúp giải thích về sự khác biệt giữa chúng.
Hen phế quản “ngoại lai”(do dị ứng) thì phổ biến hơn (90%) và thường khởi phát khi còn là trẻ con. Có 80% trong số trẻ em bị hen phế quản được ghi nhận là có hiện tượng dị ứng. Tiền sử gia đình có người bị dị ứng và những trẻ này thường có thêm các dị ứng ở nơi khác như dị ứng mũi, chàm. Hen phế quản do dị ứng thường thuyên giảm khi bắt đầu đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, có khoảng 75% trường hợp thì hen phế quản xuất hiện trở lại.
Hen phế quản “nội tại”(không do dị ứng) chiếm khoảng 10% trường hợp, thường khởi phát sau 30 tuổi và không có liên quan đến dị ứng. Loại này liên quan đến phụ nữ nhiều hơn và trong nhiều trường hợp thường theo sau tình trạng nhiễm trùng hô hấp. Loại hen phế quản này thường khó điều trị, các triệu chứng diễn tiến mạn tính và xuất hiện quanh năm.
III. BIẾN CHỨNG CỦA HEN PHẾ QUẢN:
Hen phế quản làm hẹp đường thở, và ảnh hưởng đến việc di chuyển không khí vào và ra phổi. Hen phế quản chỉ ảnh hưởng đến phế quản mà không ảnh hưởng đến phế nang và mô phổi. Hiện tượng chích hẹp phế quản là do ba yếu tố chính: viêm, co thắt phế quản và phản ứng quá mức.
Viêm: Yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của hẹp lòng phế quản là hiện tượng viêm. Phế quản sẽ bị đỏ, kích thích, phù. Phản ứng viêm xuất hiện là để đáp ứng đối với sự hiện diện của các tác nhân dị ứng hoặc chất kích thích. Phản ứng viêm là do tác động của các hóa chất trung gian như histamine, leukotrienes, và các chất khác. Các mô bị viêm sẽ tiết ra quá mức các chất nhầy vào trong lòng phế quản. Các chất nhầy sẽ kết hợp với nhau để tạo thành những nút nhầy có thể làm nghẹt các phế quản nhỏ (tiểu phế quản). Các tế bào viêm sẽ đến tích tụ và làm tổn thương mô tế bào. Các tế bào bị tổn thương sau đó sẽ bị bong tróc vào bên trong và góp phần gây nên hiện tượng hẹp đường thở.
Co thắt phế quản: Cơ bao bọc xung quanh phế quản bị co thắt trong cơn hen phế quản. Hiện tượng co thắt các cơ ở đường thở được gọi là co thắt phế quản. Hiện tượng co thắt phế quản làm cho đường thở càng bị hẹp hơn. Các hóa chất trung gian và dây thần kinh đã làm cho các cơ này co thắt lại.
Phản ứng quá mức (Quá mẫn cảm): Ở bệnh nhân bị hen phế quản, đường thở bị co thắt và viêm mạn tính trở nên nhạy cảm hơn, phản ứng mạnh hơn đối với các tác nhân gây dị ứng, chất kích thích, nhiễm trùng. Việc tiếp xúc với các tác nhân này có thể làm cho đường thở bị viêm và hẹp nhiều hơn.
Sự phối hợp của các yếu tố trên gây nên hiện tượng khó thở ở thì thở ra. Kết quả là không khí cần phải được thở ra thật mạnh để có thể đi qua chổ hẹp, do đó tạo nên tiếng khò khè hay tiếng rít.. Người bị hen phế quản thường bị ho để có thể tống các nút nhầy trong phế quản ra ngoài. Sự suy giảm lưu thông không khí làm cho ít ôxy đi vào trong máu, và nếu nặng thì có thể khí carbonic (CO2) sẽ tích tụ nguy hiểm trong máu.
Tầm quan trọng của hiện tượng viêm?
Viêm hay phù là một đáp ứng bình thường của cơ thể đối với hiện tượng chấn thương hoặc nhiễm trùng. Dòng máu và các tế bào viêm đổ dồn về vùng đang bị ảnh hưởng. Quá trình chữa lành vết thương bắt đầu. Khi quá trình chữa lành vết thương hoàn tất thì phản ứng viêm sẽ lắng xuống. Đôi khi quá trình chữa lành vết thương gây nên sẹo. Tuy nhiên, vấn đề trung tâm trong hen phế quản là quá trình viêm không thể tự nó giải quyết được vấn đề. Trong khoảng thời gian ngắn thì nó sẽ gây ra các cơn hen phế quản tái diễn. Về lâu dài thì quá trình viêm có thể làm cho thành phế quản bị dầy lên và được gọi là hiện tượng tái cấu trúc phế quản. Nếu điều này xuất hiện thì hiện tượng hẹp lòng phế quản sẽ trở nên không hồi phục và kém đáp ứng với thuốc. Do đó, mục đích điều trị hen phế quản là: (1) Về ngắn hạn là kiểm soát hiện tượng viêm để làm giảm phản ứng của phế quản và (2) Về lâu dài là ngăn chặn hiện tượng tái cấu trúc ở phế quản.
Liên hệ quảng cáo
Yahoo: langtukhongtingdau_900
Top
Comments[ 0 ]